Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư tưởng - triết học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tư tưởng - triết học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Kant và Hegel: hai mô hình tư duy


SGTT.VN - Luận điểm cơ bản (xem từ: Văn hoá hiện đại): các nền văn hoá chỉ trở thành hiện đại khi con người nhận ra sự đa dạng và sự hữu hạn của chính mình và sống phù hợp với nhận thức ấy. Đồng thời, điều này lại đòi hỏi nền văn hoá phải có một cấu trúc cơ bản để giúp con người dễ dàng nhận ra hai tính chất trên. Như đã thấy, cấu trúc ấy chính là sự phản tỉnh.

Sự phi – tập trung hoá và… quan hệ quốc tế

Triết gia Đức Georg Hegel (1770 – 1831)

Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2014

MỘT BÀI GIẢNG SÚC TÍCH

Bài giảng của giáo sư Hồ Ngọc Đại tại trường viết văn Nguyễn Du. Giáo sư đầu bạc trắng, áo trắng, quần trắng, giọng nói sang sảng, giọng điệu hài hước và thẳng thừng).

5 điều cơ bản của buổi học:
1. Sự tương quan giữa triết học và lịch sử.
2. Sự tồi tệ của nghị quyết và chính sách.
3. Sự cần thiết của mở rộng/ phá bỏ tư duy cũ.
4. Phát hiện lớn nhất của con người là Công Nghệ Sinh Đẻ.
5. Ta tạo ra chính mình.

Tôi xin nói ngay là, tôi nói điều tôi nói, còn tiếp nhận hay không là việc của các anh các chị.

Thơ dù đề là "Vô đề/ Không đề" thì vẫn cứ là có đề. Vậy hôm nay bài giảng của tôi có đầu đề là "Triết học và lịch sử".

Thứ Tư, 19 tháng 11, 2014

ĐỪNG BÁM RIẾT THEO SỰ NHẦM LẪN CỦA MARX


Mác là một triết gia lớn, được nhiều người đánh giá rất thông minh, có đạo đức tốt, rất yêu mến giai cấp vô sản, suốt đời phấn đấu cho tự do và giải phóng vô sản. Mác là con người tuyệt vời được hàng tỷ người ngưỡng mộ. Những kết luận do Mác đưa ra đã trở thành lý luận cách mạng của nhiều đảng cộng sản và những đồ đệ của Mác cho rằng đó là những điều duy nhất đúng, còn cái gì ngược lại là sai, là phản động. Hàng tỷ người, trong đó có nhiều người thông minh, ưu tú, trong thời gian dài đã tin vào điều đó, ca ngợi điều đó.

Người ta tin, rất tin vào Mác vì động cơ rất tốt đẹp của ông, vì sự chứng minh, sự suy luận có hình thức bên ngoài chặt chẽ, vì lý thuyết của Mác phù hợp với lòng mong ước của số đông. Lý thuyết đó đã thắng lợi lớn ở một số nước, nhưng rồi Liên xô và Đông Âu sụp đổ, Trung quốc đưa ra thuyết ba đại diện mà thực chất là không còn theo Mác một cách tuyệt đối. Tại sao lại như vậy. Phải chăng trong lý thuyết của Mác có cái gì đó không đúng, phải chăng Mác có nhầm lẫn điều gì.
Năm 1922, trong bài giảng về “Chủ nghĩa tam dân” Tôn trung Sơn nhận xét như sau: Mác là người rất giỏi và có đạo đức tốt, chỉ tiếc rằng luận thuyết đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội loài người của ông là một sai lầm nghiêm trọng.
Gs.Ts Nguyễn Đình Cống 

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2014

Những cái nhìn về “Đèn Cù”

SGĐT: Một lời dẫn hay: “Đọc Đèn Cù của ông Trần Đĩnh hấp dẫn như đọc kiếm hiệp, từng chương từng hồi nối tiếp không dứt ra được. Văn phong ông mới lạ, thoát mọi chuẩn mực, phóng túng theo cách của mình, có lúc người đọc phải dừng lâu mới hiểu. Ý tưởng hiền lành nhưng loáng lên ánh sắc của gươm đao dao kéo, đường cắt ngọt qua đi, người ta thấy rỉ máu… Ông dẫn ta men qua con đường hẻo lánh, chênh vênh, ngóc ngách để hình dung ra một cảnh giới bi hùng, bi tráng, bi hài của ATK (An toàn khu). Bất ngờ ta gặp Mao Trạch Đông sừng sững. Thoắt, ta hiểu ra suối nguồn đã làm nên một dòng chảy! Ta cũng mơ hồ thấy những mảnh vỡ của lịch sử, lóng lánh mà thê lương đã tạo nên hồn Việt… Đến dấu chấm hết! Nhưng chiếc đèn cù vẫn còn quay theo quán tính, chậm dần...
Một thoáng vọng Chinh Phụ ngâm:
"Hồn tử sỉ gió ù ù thổi.
Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi...” (Hạ Đình Nguyên)
------------------------

Hạ Đình Nguyên
 
Mỗi người đọc một cuốn sách đều phải đọc bằng con mắt sẵn có của mình, do đó, Đèn Cù cũng được đọc dưới những cặp mắt kính khác nhau.

Tôi nghĩ về câu chuyện “Người mù sờ voi”.

Thứ Hai, 13 tháng 10, 2014

DI SẢN NHƯ MỘT MINH TRIẾT


image
Cách đây hơn 150 năm, chủ yếu bằng ngoại giao, vua Tự Đức cũng đã kiên trì nổ lực nhằm cứu vãn chủ quyền đất nước, nhưng không thành công. Trong Luận văn tiến sĩ của Yoshiharu Tsuboi, giảng viên Đại học Tokyo đã đúc kết bốn nguyên nhân khiến Việt Nam lúc bấy giờ không đương đầu nổi với các áp đảo hung hãn từ bên ngoài. Lý do đầu tiên là lòng dân, yếu tố quan trọng nhất quy tụ mọi lực lượng quốc gia, bị ly tán. Những lý do kế tiếp là sự yếu kém về kinh tế, sự tụt hậu về chính trị và cuối cùng là gánh nặng về di sản. Cả bốn yếu tố này đã hủy hoại sức đề kháng của đất nước, khiến cho thế quân bình với hai cường quốc lúc bầy giờ là Pháp và Trung Hoa bị sụp đổ. Thay vì vượt qua được cơn nguy khốn, hoạt động ngoại giao của chính quyền (vừa cầu hòa với Pháp, vừa triều cống Trung Hoa) đã dẫn đến các xung đột mà chiến trường lại diễn ra ngay trên đất nước Việt Nam.

Dường như có một số điều nào đó từ các nguyên nhân “gốc rễ” kể trên mà tận cho đến ngày hôm nay chúng ta vẫn còn vướng bận chưa giã từ được dĩ vãng. Giờ đây, nếu nhìn Việt Nam không như một thực thể chính trị, mà xét từ một góc độ khác – mổ sẻ sâu hơn vào cái bản thể xã hội – nhìn thấu cái “tạng” của quốc gia-dân tộc mình, chúng ta sẽ nhận ra rằng, sự thành bại trong việc đối phó với các thách thức “định mệnh” tới đây vẫn nằm sâu trong bản sắc văn hóa. Vua Tự Đức và các lão tướng thời ấy đã bị đánh gục không phương cứu chữa là do tất cả đều bị cầm tù bởi cái ý thức hệ và nền văn hóa chính trị quá lạc lõng. Và kết cục là Việt Nam đã tụt hậu hơn đối thủ cả một thời đại. Không thua mới là chuyện lạ và có thể coi các bậc tiên tổ từng chiến bại ấy chính là “những anh hùng lạc thời đại” (từ của Nguyên Ngọc).

image
Từ di sản quá khứ, cái “minh triết bảo thân” đang thúc đẩy chúng ta phải gấp rút tiến lên cùng thời đại. Thật là quá bất cập nếu quản trị đất nước bằng tư duy của các thế kỷ trước. Khó có thể phát huy hiệu quả các loại quan hệ, dù là “đối tác chiến lược” hay “đối tác toàn diện” với cộng đồng quốc tế nếu bản thân quốc gia lại theo đuổi một pe-rơ-đam lạc lõng. Thật khó thuyết phục, khi trong bang giao, chúng ta kêu gọi áp dụng các quy chuẩn của pháp quyền như viện dẫn Hiến chương LHQ, Luật UNCLOS hay COC… nhưng lại chưa thật sự chú ý ưu tiên các giá trị phổ quát ấy trong nội trị hay trong đàm phán các hiệp định quốc tế như WTO hay TPP. Thế kỷ 21 này là thế kỷ của tự do và sáng tạo. Mọi lý thuyết và mô hình, kể cả những thứ đã làm nên phép lạ ở các nước Nhật Bản, Tây Âu hay Hoa Kỳ cũng đều đang được điều chỉnh lại và tái cấu trúc.

image
Ngoại trưởng John Kerry trong buổi gặp Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, đã ca ngợi Việt Nam ngày nay là một đất nước hiện đại. Tuy nhiên, là người trong cuộc, chúng ta hiểu hơn ai hết, khoảng cách giữa một Việt Nam còn phải đối mặt cùng lúc với nhiều thách thức kép và một ViệtNam đàng hoàng, thịnh vượng trong tương lai. Trước đây phần tư thế kỷ, nhà thơ Nguyễn Duy từng cảm thán, sau lưng chúng ta là những kỷ niệm bi tráng, trước mặt chúng ta là con đường gập ghềnh. Vậy mà bao nhiêu trái tim ấy vẫn nhiễm bệnh “đập cầm chừng”? Bao nhiêu khối óc ấy vẫn mắc chứng “khối u tự mãn”? Chúng ta hãy mau chóng hành động khẩn trương, đừng ngồi yên ca mãi khúc nguyện cầu “đánh thức tiềm lực!”

image
Đừng lặp lại lịch sử để rồi bị coi là “những anh hùng lạc thời đại”, càng không thể để láng giềng phương Bắc gọi chúng ta là “những đứa con hoang đàng”.

Thứ Hai, 29 tháng 9, 2014

TRIẾT HỌC ĐÃ CHẾT?

29-9-2014
Dao Quang

Tôi không thích giới thiệu về bản thân mình, như là người như thế này thế kia, cũng không muốn tạo cảm giác cho bạn đọc rằng những điều tự tôi tìm ra cũng “bình dị, dễ hiểu”, như phần lớn các bài viết khác trên Triết Học Đường Phố.
Có thể thấy, các bài viết trên website thể hiện rất rõ những trăn trở và ưu tư của lớp người trẻ thông minh và tự do trong tư tưởng tại Việt Nam. Chúng ta đều đã có những phát triển về nhận thức, so với đại đa số những người khác phải chịu thiệt thòi hơn, trong hoàn cảnh sống và tiếp cận thông tin.
Tuy nhiên, là một bạn đọc đã lâu, tôi cảm thấy, triết học từ thưở ban đầu, các trường phái đã xuất hiện, cũng như phản ánh qua tư duy và bài viết trên website đều mang hương vị nào đó của sự lặp lại, nói theo, hoặc buồn tẻ, mơ hồ, hay đứt quãng và manh mún.
Rõ ràng, chúng ta cảm thấy rất nhiều điều, nhiều bất cập, nhiều câu hỏi… nhưng rõ ràng, những cái đầu tư duy phân tích tốt lại đi kèm với thiếu trải nghiệm và một sự đột phá mang tính nền tảng.
Con người cho tới nay, nhìn thế giới qua 3 lăng kính: khoa học, triết học và tôn giáo. Khoa học tìm hiểu thực tế bằng con mắt lý trí và tư duy khách quan, đi kèm với phương pháp nghiên cứu tỉ mỉ và rạch ròi. Triết học thuần túy đứng trên góc nhìn chủ quan và từ đó, đưa ra các câu hỏi, các giả thuyết và giải quyết bằng lý luận.
Riêng tôn giáo, cho tới nay, xin lỗi là… lợi bất cấp hại. Dĩ nhiên, thâm tâm tôi hiểu, rằng tôn giáo chân thực vẫn tồn tại ngầm và là nghệ thuật cao nhất: nghệ thuật biến đổi hoàn toàn một cá nhân, cả thể chất, tâm lý và nhận thức. Nhưng để viết về điều này, cũng không khác gì thầy bói xem voi.

Thứ Hai, 22 tháng 9, 2014

QUANH QUẨN... TRƯỚC CỬA THIỀN (2)

Hạ Đình Nguyên
06/3/2012

Lời bình của một người đọc: Đọc phần này, (chúng) tôi thấy có nhiều điều lý thú hơn phần 1, đặc biệt là câu "Tiếng cổ Ấn Độ chuyển sang Latinh có liên quan với từ trên, là MANTRA, gồm 2 từ MAN và TRA. MAN là suy nghĩ, suy tư, tư tưởng, TRA là giải phóng, giải thoát... Tóm lại, “thiền” = mantra, là nhằm giải phóng con người ra khỏi sự suy nghĩ, tức là sự “toàn trị” của lý trí". Tôi đã nhiều lần sử dụng tư liệu này trong một số entry (tự do) của tôi, xin cám ơn tác giả.... Nói chung, theo tôi, "ý thức được là mình đang làm gì" đã là quý hóa lắm rồi! 
---------


2. Thiền và "tư duy lại tương lai"

Thiền là gì? Có nhiều định nghĩa loằn ngoằn và khó nhớ.

Ngôn ngữ là phương tiện truyền tải tư duy và văn hóa của con người. Trải qua thời gian và không gian, ngôn ngữ phát triển và xa dần ý nghĩa ban đầu để thích ứng với tập quán của mỗi địa phương và nền văn hóa khác nhau. Một trong những phương pháp nghiên cứu lịch sử là truy nguyên nguồn gốc ngôn ngữ. Nguồn gốc của từ ngữ có thể cho ta một hiểu biết lý thú. Thiền là từ Hán Việt. Người Nhật có óc tự chủ cao nên sáng tạo ra từ riêng của mình, gọi cái ta gọi là thiền, là Zen. Tiếng Anh, Pháp là Meditation, có nghĩa là tư duy/trầm tư, vì Âu Mỹ không có từ riêng để chỉ điều mà phương Đông gọi là thiền.

Tuy nhiên, Meditation có nguồn gốc Latinh bắt nguồn từ chữ Mederi, bắt đầu từ chữ M. Theo sách Practical Meditation (1), Mederi có nghĩa là khôi phục, tức trở lại với chính mình. Tiếng cổ Ấn Độ chuyển sang Latinh có liên quan với từ trên, là MANTRA, gồm 2 từ MAN và TRA. MAN là suy nghĩ, suy tư, tư tưởng. TRA là giải phóng, giải thoát - Mantra là giải phóng sự suy nghĩ, giải phóng (con người đích thật) ra khỏi sự cai trị của lý trí/trí năng để tâm thức được tự do, được sáng suốt, để trở về với “Tự ngã” ban đầu. Triết học phương Đông gọi là “bản lai diện mục”.

QUANH QUẨN... TRƯỚC CỬA THIỀN (1)

Hạ Đình Nguyên
06/3/2012

Lời bình của một người đọc: Mấy chục năm... tìm hiểu, (chúng) tôi vẫn không hiểu được 'thiền là gì?', phần lớn là vì sách viết phức tạp quá. Một chiều hôm nọ, đọc tài liệu này, chúng tôi mới vỡ lẽ (nhưng không nói dài dòng ở đây). Tóm lại, con người cần phải có những khoảnh khắc nhìn lại chính mình, để biết là ta có đi 'quá đà không?' trong cái thế giới đầy nhiễu loạn này, âu đó cũng là một thực tại không kém phần quan trọng trong con đường dẫn đến 'tự do' vậy! 

1. Khúc dạo đầu nhàn rỗi

Ngày nay, Thiền, hay Thiền Định, đang trở thành một hình thái sinh hoạt rất phổ biến đối với nhiều tầng lớp dân cư, thuộc nhiều lứa tuổi, không chỉ ở lứa tuổi người già, người trung niên, mà đặc biệt phát triển nhiều ở giới trẻ. Ở phương Tây càng phát triển mạnh mẽ hơn cả phương Đông, vốn là quê hương của Thiền.

Thiền ngày nay được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau và ứng dụng vào nhiều mục đích khác nhau, không như truyền thống lâu đời, vốn là phương thức riêng biệt của người tu hành theo đạo Phật, nay nó đã trở thành một nét sinh hoạt văn hóa tự phát và tự giác của các tổ chức xã hội ở nhiều quốc gia tiên tiến. Trên toàn thế giới, chỉ có một quốc gia duy nhất, đủ nhẫn tâm truy bức và đàn áp đẫm máu hằng trăm triệu người tu thiền theo môn Pháp Luân Công. Nước đó có tên là Trung Quốc.

Thứ Năm, 11 tháng 9, 2014

TRẦN ĐỨC THẢO – TỪ ĐỈNH THÁP NGÀ XUỐNG ĐẤT ĐỎ

Theo Chuyển Hóa
06-9-2014
Hạ Long Bụt Sĩ


Khoảng 1959-60, giáo sư Trần Bích Lan, tức thi sĩ Nguyên Sa, ở Pháp về, ông kể: cuốn Phénoménologie et Matérialisme Dialectique - Hiện Tượng Luận và Duy vật Biện chứng - của Trần Đức Thảo là cuốn kinh điển, classique, được dùng ở Collège de France (1), hơn cả Sartre!
Thời ấy, ảnh hưởng văn học Pháp còn sâu đậm ở VN, các vị tốt nghiệp từ các trường lớn bên Pháp, như Sư Phạm Normale, Bách khoa Polytechnique, Cầu Cống Pont et Chaussée… cỡ Phạm Duy Khiêm, Hoàng Xuân Hãn, Trần Đức Thảo… được xã hội văn hiến VN tôn vinh đặc biệt như những ông Trạng tân học!
Đấy là những trường lớn - Grandes Écoles, lựa chọn sinh viên xuất sắc, thường là Tú Tài Ưu hạng, thi vào rất khó, học 3-4 năm, với 1-2 năm dự bị, đậu từ Normale ra với bằng Thạc sĩ Agrégé, được dậy học cấp Trung học. Từ Agrégé mang nghĩa Sư phạm, không phải học vị trên Tiến sĩ như ngành Y, Luật… Trần đức Thảo cũng đã ghi danh ở Sorbonne, đậu Cao học DES Triết ( luận văn về Hegel), ra trường hạng đầu (2 người đồng bảng) 1943 với luận văn về Husserl. Sự lựa chọn triết học lúc đó chỉ là do tính kiêu ngạo bồng bột  của tuổi trẻ, muốn được mọi người nể phục như chính ông nói. Thật ra, nếu Toán học là vua của khoa học lý hoá thì Triết là vua của văn chương nhân văn, không có khiếu thì khó mà đạt thành, nhất là từ phương Đông sang học giới Tây phương.

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

ĐỐI THOẠI GIỮA CON VÀ CHA

SGĐT: Chúng tôi được một người chia sẻ đoạn thư điện tử qua lại giữa hai cha con họ, đọc thấy vô cùng lý thú. Được sự đồng ý của người có thư, chúng tôi đăng lên đây để các độc giả cùng thưởng thức.

Bình luận của một người bạn: Người ta hay nghĩ rằng triết gia là các "pho tượng", nhưng họ vốn được sinh ra từ hiện thực. Và đây là một viên ngọc Việt quý mà tôi vừa mới phát hiện.

"VỪA ĐI HỌC VỀ"

Ảnh sưu tầm trên mạng
       
Con (17h 03-9-2014):
       Học cả ngày, ráng không bỏ lớp, chú ý bài vở. kì này phải là kì bắt đầu tăng tốc, qua rồi thời tân sinh viên làng nhàng cả năm.
       Không nói chuyện tin tức nặng nề, con rảnh viết cho ba một bài tâm sự về yêu đương, ba hứng thú không?

Cha (17h24' 03-9-2014):
       Con cứ gửi đi, biết đâu đấy. Ba có một bài trên facebook của tên ba.

Con (19h34' 04-9-2014):
       Phụ nữ và đàn bà, thật đơn giản mà cũng thật phức tạp, nhưng có lẽ hai thứ quan trọng nhất với họ là sĩ diện và tình yêu.
       Con chẳng thất tình hay đau khổ gì, chỉ là một chút chiêm nghiệm của thời kì trưởng thành vỡ lòng.
       Tuổi thì chưa nhiều, nhưng yêu cũng nhiều rồi, gọi yêu cho trang trọng, con thích gọi là "va chạm cảm xúc" hơn.
       Từ đầu lớp 8, đầu lớp 10, lớp 11 rồi 12, hầu như chưa hề ngừng va chạm. Phụ nữ, hay con gái, quả thật thay đổi từ thăng nhóc thành con trai, con trai thành đàn ông. Con vẫn còn là con trai thôi.
       Còn con gái, thành phụ nữ thật đơn giản, nhưng cũng lắm trầy trọc, vì bản chất của họ như nước thật như ba nói, muôn hình vạn trạng đều biến được, nhưng tính chất chỉ có một, nước là nước, hũ chứa mới khác nhau. Đổ hũ nào thì nằm hũ đấy vừa in, hoặc như tấm chăn trên cái giường, đắp đâu là phủ đấy. Biết xếp thì gọn, không thì bừa.
       Từ thằng bé thành con trai rồi đàn ông, một phần rất lớn trong quá trình đó là học cách đối phó, giải quyết, xếp chăn và biến mình thành một hũ chứa sao cho vừa.

Thứ Sáu, 5 tháng 9, 2014

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THẬT SỰ LÀ GÌ?

SGĐT:  Thong thả đọc lại bài phát biểu cuối năm 1989 về chủ nghĩa xã hội của ông Trần Xuân Bách, một trong những nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng Sản Việt Nam công khai đưa ra sớm nhất yêu cầu về đa nguyên chính trị, về cải tổ chính trị song song với cải cách kinh tế, nhưng không tìm được sự ủng hộ trong Đảng và buộc phải nghỉ hưu từ tháng 8-1990.


Chủ nghĩa xã hội thế giới đang đứng trước những thử thách lớn 

Một điểm rất thống nhất của toàn xã hội, toàn thể nhân dân hiện nay là trăn trở với tình hình trên thế giới và trong nước. Muốn đưa dân tộc ta tiến lên. Trong Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu ta bình chân như vại trước tình hình hiện nay là thiếu trách nhiệm. 

Chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang đứng trước những thử thách lớn và những triển vọng lớn. Do từ những thử thách của thời đại và những triển vọng lớn cũng là do thời đại. Tất cả các dân tộc đều trong hoàn cảnh bức xức, cả chủ nghĩa tư bản, cả chủ nghĩa xã hội, cả loài người đều như vậy. Có hai lý do của sự bức xúc: 

Chỉ còn 10 năm nữa là bước sang thế kỷ XXI, dân tộc nào bị tụt hậu vào giữa thế kỷ XXI là nguy hiểm vô cùng, vì đây là thời đại của cách mạng khoa học kỹ thuật, của bùng nổ thông tin và giao lưu quốc tế. 

Xử lý vấn đề này không thể một nhóm, một người nào làm được. Cả dân tộc phải chuẩn bị và làm công việc này. 

Diễn biến chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa đang căng thẳng, phức tạp và dây chuyền. Vì sao có tính dây chuyền? Vì ta ở trong thời đại thông tin, không thể bưng bít thông tin được. Ai bưng bít thông tin là lạc hậu nhất. Phải cung cấp thông tin đầy đủ để người ta lựa chọn. 

Không thể nghĩ rằng ở châu Âu thì sôi sục, còn châu Á thì ổn định. Không thể chủ quan cho mình là ổn định. Tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều nằm trong sự vận động để tiến lên, đều có những mâu thuẫn lớn, đều phải phá vỡ sức đè nén của những cái cũ, không anh nào có thể yên trí mình ổn định được. Có khi tuần này còn huênh hoang, tuần sau đã bị đảo lộn.

Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014

CHÚNG TA LỰA CHỌN GÌ CHO TỔ QUỐC?



Bài 3: Viết về Đại hội XII sắp tới của ĐCSVN

Lời nói đầu:

 “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”
Đấy là khẩu hiệu quyết định nhất làm nên Cách mạng Tháng Tám 1945. 

Người viết bài này mong khái nhiệm “chúng ta” ở đây được hiểu với nghĩa như vậy.

Đất nước 40 năm độc lập thống nhất rồi, tôi thấy rất đau lòng hôm nay vẫn phải mở đầu bài viết của mình với đôi lời định nghĩa như vậy về khái niệm “chúng ta”. Đơn giản vì đã 69 năm trôi qua, thế nhưng hôm nay vẫn còn không ít những rạn nứt chia rẽ cộng đồng dân tộc Việt Nam ta, đang làm mờ đi hay làm thiếu vắng khái niệm “chúng ta” khi bàn đến đại sự của đất nước. 

Sự thể là qua các bài viết của mình, tôi vấp phải không ít phản ứng gay gắt từ phía người đọc: “Chúng ta” là ai trong toàn thể cộng đồng dân tộc đất nước này? Là người cai trị hay người bị cai trị? Là người nắm quyền hay là dân đen? Là ông chủ hay người đi làm thuê? Là đảng viên (ĐCSVN) hay không phải đảng viên? Là người chiến thắng hay kẻ lưu vong? Là bên thắng cuộc (Huy Đức) hay kẻ phải đi cải tạo?.. Câu chuyện còn đau lòng hơn nữa khi có người đọc nổi đoá với tôi: Khái niệm đảng ta là đảng của ai? Đấy là đảng của các ông chứ đâu phải là đảng của chúng tôi! Đến nông nỗi này mà ông vẫn còn “ngu trung” đặt vấn đề đảng viên muốn cứu nước thì phải cứu đảng trước!.. Ngôn ngữ làm nát lòng người này khiến tôi nhớ lại những ngày tháng lặn lội đi sửa sai cải cách ruộng đất tại các xã ở Trực Ninh – Nam Định cách đây hơn nửa thế kỷ…

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2014

PHÊ PHÁN CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

000_Hkg2678165.jpg
Công nhân đô thị chăm sóc hoa viên ở Hà Nội
Một trong những khía cạnh mà những người tham dự hội thảo nhan đề “Thoát Trung” ở Hà Nội vừa qua đề cập tới là chủ nghĩa cộng sản, cũng như những biến thái của nó là chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa Mao. Mặc dù trong hội thảo này, tranh luận về văn hóa được đưa lên hàng đầu nhưng không tránh khỏi những bàn luận về chính trị xoay quanh ba thứ chủ nghĩa vừa nêu.